Các dòng phái Đông Á

Kinh Dịch, dòng chảy biến dịch tại Việt Nam

Tại Việt Nam, Kinh Dịch đã bước ra khỏi chốn thư phòng để hòa nhập sâu rộng vào đời sống xã hội. Một bậc hiền triết thế kỷ mười sáu đã dùng thơ quẻ dịch mưu phò các thế lực phân tranh, một quẻ đơn được đưa lên quốc kỳ, và một tôn giáo hiện đại đã kiến thiết tòa thánh xoay quanh biểu tượng Bát Quái.

12
dòng phái
12
nhân vật
900
năm tiếp nhận tại Việt Nam

Các dòng phái

Hành trình tiếp nhận Kinh Dịch của người Việt trải dài từ chốn trường thi, triều đình, mạch nguồn sấm ký, la bàn phong thủy cho tới thế kỷ hai mươi với một tôn giáo mới và một lá quốc kỳ.

🎓

Chương trình khoa cử

Việt Nam 1075 đến 1919

Việt Nam duy trì chế độ khoa cử Nho học suốt hơn tám thế kỷ, và Kinh Dịch là một trong Ngũ Kinh mà sĩ tử buộc phải nghiên cứu qua các bản chú giải của Trình Chu. Đây chính là tầng nền tảng cho mọi dòng chảy Dịch học tại Việt Nam.

🔮

Sấm Trạng Trình

Việt Nam Từ thế kỷ XVI

Những vần thơ sấm truyền tụng được cho là của Nguyễn Bỉnh Khiêm, dùng ngôn từ ẩn ý thâm sâu và được bao thế hệ giải đọc như điềm báo về những cuộc biến thiên triều đại. Mỗi khi vận nước lâm vào biến cố, những cách luận giải mới lại xuất hiện.

🏯

Mưu lược nơi triều đình

Việt Nam Thế kỷ XVI đến XVIII

Trong thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài, cả hai bên đều tìm kiếm những lời chỉ dẫn đượm màu sắc Dịch học. Lời khuyên nổi tiếng nhất đã định hình hướng mở cõi của các chúa Nguyễn về phương Nam.

📚

Học thuật thời Lê trung hưng

Thăng Long Thế kỷ XVIII

Các công trình bách khoa của Lê Quý Đôn dành dung lượng đáng kể để luận giải Kinh Dịch, mang đến nhãn quan phê phán và so sánh sắc sảo đối với một pho kinh điển vốn thường chỉ được tiếp nhận theo khuôn mẫu chính thống Trung Hoa.

☸️

Tam giáo đồng nguyên

Việt Nam Từ thời nhà Lý

Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo tại Việt Nam được nhìn nhận là bổ trợ cho nhau thay vì bài trừ đối kháng, trong đó Kinh Dịch đóng vai trò nền tảng vũ trụ luận chung. Truyền thống dung hợp này đã tạo tiền đề cho những sự kết hợp tư tưởng độc đáo về sau.

🧭

Phong thủy

Việt Nam Từ thời nhà Lý

Thuật phong thủy Việt Nam vận dụng các quẻ đơn và đồ hình Hậu Thiên Bát Quái để định vị mồ mả, nhà cửa và thành quách. Thuật này từng định hướng việc xây dựng kinh thành Thăng Long và ngày nay vẫn được ứng dụng sâu rộng trong xây cất.

✍️

Chú giải bằng chữ Nôm

Việt Nam Thế kỷ XVII đến XIX

Những trước tác bằng văn tự Nôm đã đưa kinh điển đến gần hơn với độc giả ngoài tầng lớp tinh hoa Hán học, đánh dấu bước chuyển quan trọng giúp Kinh Dịch trở thành một phần của văn hóa bản địa thay vì chỉ là kinh sách ngoại nhập.

🪷

Bửu Sơn Kỳ Hương và Hòa Hảo

Đồng bằng sông Cửu Long Thế kỷ XIX đến XX

Các phong trào Phật giáo mang màu sắc cứu thế ở miền Nam tiếp thu nguồn sấm truyền và vũ trụ luận, trong đó có quan niệm bắt nguồn từ Kinh Dịch về một thời kỳ chuyển dịch mạt kiếp, bồi đắp nên một dòng chảy tôn giáo đậm chất bản địa.

👁️

Đạo Cao Đài

Tây Ninh Từ năm 1926

Một tôn giáo dung hợp có Tòa Thánh được quy hoạch xoay quanh đồ hình Bát Quái, với các mô típ quẻ dịch bao trùm khắp kiến trúc, cùng một hệ vũ trụ luận dung hợp Kinh Dịch song hành với Phật giáo, Đạo giáo và Công giáo.

🏳️

Quẻ dịch trên quốc kỳ

Việt Nam Năm 1945 và sau đó

Quốc kỳ Đế quốc Việt Nam năm 1945 mang quẻ Ly với ba vạch nằm ngang, vạch giữa đứt đoạn; lá cờ miền Nam sau đó đổi thành ba sọc liền. Một biểu tượng quốc gia bắt nguồn trực tiếp từ Kinh Dịch.

🔤

Dịch thuật chữ quốc ngữ

Việt Nam Thế kỷ XX

Nguyễn Hiến Lê, Phan Bội Châu cùng các học giả đã biên soạn những bản dịch và khảo luận bằng chữ quốc ngữ, đưa Kinh Dịch vượt khỏi khuôn khổ Hán học để đến với đông đảo độc giả Việt Nam.

🎋

Bói toán dân gian

Việt Nam Xuyên suốt lịch sử

Hình thức xin xăm tại đền chùa, lịch vạn niên và các phép bói toán dân gian duy trì sự hiện diện của quẻ dịch trong đời sống thường nhật, đặc biệt vào dịp Tết, cưới hỏi, khai trương và chọn ngày lành tháng tốt.

Các nhân vật tiêu biểu

Những học giả triều Lê và triều Nguyễn, bậc tiên tri với những câu sấm còn truyền tụng, các đấng sáng lập Đạo Cao Đài và những dịch giả hiện đại đã đưa bộ kinh vào dòng chảy quốc ngữ.

Nguyễn Bỉnh Khiêm

1491–1585 Hải Dương

Thường gọi là Trạng Trình, ông đỗ Trạng nguyên, ra làm quan một thời gian ngắn rồi cáo quan về ở ẩn dạy học suốt nhiều thập kỷ, trong khi các phe phái phân tranh đều sai người đến xin mưu kế. Những vần thơ sấm truyền tụng mang tên ông thuộc hàng những văn bản được trích dẫn nhiều nhất trong văn hóa Việt Nam.

Lê Quý Đôn

1726–1784 Thái Bình

Học giả kiệt xuất của Việt Nam thế kỷ mười tám, một nhà bách khoa toàn thư kiêm sứ thần với trước tác bao quát lịch sử, địa lý, triết học và kinh điển, trong đó có những khảo luận sâu sắc về Kinh Dịch.

Ngô Thì Nhậm

1746–1803 Hà Tây

Danh sĩ và đại thần phụng sự triều Tây Sơn, tác giả nhiều trước tác về kinh điển Nho gia và Phật giáo. Cuộc đời ông phản ánh mẫu hình trí thức Nho học chèo chống qua một trong những thời kỳ biến động dữ dội nhất của lịch sử Việt Nam.

Phan Huy Chú

1782–1840 Hà Tây

Tác giả công trình đồ sộ khảo cứu chế độ điển chương Việt Nam, ghi chép tường tận cách thức các kinh điển, bao gồm Kinh Dịch, vận hành trong hệ thống khoa cử và hành chính quốc gia.

Nguyễn Du

1766–1820 Hà Tĩnh

Đại thi hào sáng tác Truyện Kiều, kiệt tác văn học dân tộc thấm đượm quan niệm về số mệnh do vũ trụ luận Nho gia định hình, tác phẩm mà độc giả Việt Nam đến nay vẫn dùng để bói Kiều đoán định tương lai.

Đoàn Minh Huyên

1807–1856 An Giang

Người sáng lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, phong trào Phật giáo cứu thế ở đồng bằng sông Cửu Long với niềm tin vào thời kỳ chuyển dịch sắp tới, kế thừa từ kho tàng vũ trụ luận hỗn dung của vùng đất này.

Phan Bội Châu

1867–1940 Nghệ An

Nhà chí sĩ cách mạng tiền bối đầu thế kỷ hai mươi, người đã biên soạn khảo luận Kinh Dịch trong những năm tháng bị giam lỏng tại Huế, nhìn nhận pho kinh điển như một nguồn minh triết cho sự phục hưng dân tộc.

Ngô Văn Chiêu

1878–1932 Nam Kỳ

Vị công chức thời thuộc địa có những thị kiến về Thiên Nhãn khởi nguồn cho Đạo Cao Đài. Ông sớm tách khỏi cơ cấu giáo hội hữu hình khi nền đạo phát triển, chọn cho mình con đường tu tịnh nội tâm.

Phạm Công Tắc

1890–1959 Tây Ninh

Nhà lãnh đạo có công lớn trong việc phát triển tổ chức Đạo Cao Đài và xây dựng Tòa Thánh Tây Ninh, nơi công trình kiến trúc khắc họa rõ nét biểu tượng Bát Quái cùng vũ trụ luận của tôn giáo này.

Bảo Đại

1913–1997 Huế

Vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn, dưới thời chính thể ngắn ngủi Đế quốc Việt Nam năm 1945 đã chọn quẻ Ly làm quốc kỳ, minh chứng rõ rệt nhất cho việc Kinh Dịch trở thành biểu tượng chính thức của một nhà nước.

Nguyễn Hiến Lê

1912–1984 Sài Gòn

Học giả, dịch giả và nhà văn hóa uyên bác có công trình dịch thuật và khảo chú Kinh Dịch được xem là ấn bản phổ thông chuẩn mực, giúp pho kinh trở nên gần gũi với người đọc không biết chữ Hán.

Nguyễn Duy Cần

1907–1998 Nam Bộ

Tác giả uy tín về học thuyết Đạo gia và triết học phương Đông, người có những tác phẩm giới thiệu vũ trụ luận Kinh Dịch đến với đông đảo tầng lớp độc giả trí thức Việt Nam thế kỷ hai mươi.

Pho kinh điển bước vào đời sống đại chúng

Việt Nam nghiên cứu Kinh Dịch cùng chung lý do với Triều Tiên và Nhật Bản: đây là một trong Ngũ Kinh, và Việt Nam đã duy trì chế độ khoa cử Nho học từ năm 1075 đến tận năm 1919, lâu dài hơn bất kỳ quốc gia nào ngoài Trung Hoa. Nhiều thế hệ sĩ tử đã tiếp cận kinh văn qua các bản chú giải của phái Trình Chu, đưa hệ thuật ngữ Dịch học thâm nhập sâu vào ngôn ngữ hành chính triều đình.

Điểm khác biệt của trường hợp Việt Nam nằm ở mức độ lan tỏa của kinh văn bên ngoài chốn thư phòng. Ở nhiều nơi khác, Kinh Dịch chủ yếu là địa hạt của giới học giả, danh y và thầy bói toán. Tại Việt Nam, pho kinh này hóa thân thành những vần thơ sấm được dân gian truyền tụng, trở thành biểu tượng trên quốc kỳ, và là đồ hình tổ chức của một tôn giáo hiện đại quy tụ hàng triệu tín đồ.

Bậc hiền triết Trạng Trình

Nguyễn Bỉnh Khiêm đỗ đầu khoa thi năm 1535 (Trạng nguyên), làm quan khoảng tám năm rồi cáo quan về ở ẩn vì phản đối nạn nhũng nhiễu nơi cung đình, dành suốt bốn thập kỷ sau đó dạy học tại am Bạch Vân. Trong thời kỳ đất nước chia cắt, khi nhà Mạc cùng các thế lực chúa Trịnh và chúa Nguyễn không ngừng phân tranh, tất cả các bên đều cử người đến thỉnh vấn mưu lược từ ông.

Câu chuyện được nhắc đến nhiều nhất liên quan đến chúa Nguyễn. Khi được hỏi làm sao để dòng họ có thể đứng vững trước thế lực chúa Trịnh, ông được cho là đã đưa ra câu sấm nổi tiếng về dãy Hoành Sơn với lời dặn vạn đại dung thân («Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân»). Các chúa Nguyễn xuôi về phương Nam vượt qua dãy núi này, lập nên cơ nghiệp vững chắc, và sau cùng dựng nên vương triều thống nhất đất nước. Các sử gia nhìn nhận giai thoại này với sự cẩn trọng chừng mực, nhưng tầm ảnh hưởng văn hóa sâu sắc của nó là điều không thể nghi ngờ.

Tập thơ sấm truyền tụng mang tên ông, tức Sấm Trạng Trình, được viết bằng lối ngôn ngữ ẩn dụ, gợi mở đầy chủ ý theo phong cách thơ chiêm đoán, và được người đời giải đọc lại sau mỗi bước ngoặt biến cố của non sông. Độc giả Việt Nam từng tìm thấy trong đó bóng dáng cuộc xâm lược của thực dân Pháp, những cuộc chiến tranh khốc liệt của thế kỷ hai mươi cùng nhiều biến thiên thời cuộc. Điều này phản ánh sức sống bền bỉ của những vần thơ, đồng thời nói lên cách thức mà sấm truyền vận hành trong tâm thức đại chúng.

Quẻ dịch trên lá quốc kỳ

Vào tháng 3 năm 1945, khi quân đội Nhật Bản đảo chính lật đổ chính quyền thuộc địa Pháp, chính thể ngắn ngủi Đế quốc Việt Nam đã ban hành lá cờ mang biểu tượng quẻ Ly: nền vàng với ba vạch nằm ngang màu đỏ, trong đó vạch ở giữa bị đứt đoạn. Quẻ Ly tượng trưng cho hỏa, ánh sáng, sự sáng tỏ và phương Nam; việc lựa chọn này là lời khẳng định ý thức tự chủ bản địa và bản sắc phương Nam trong thời khắc chủ quyền đất nước bị tranh chấp gay gắt.

Chính thể này chỉ tồn tại vài tháng. Biến thể kế thừa của lá cờ, với vạch giữa được nối liền thành ba sọc đỏ thẳng suốt, đã trở thành quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam rồi Việt Nam Cộng hòa, và ngày nay vẫn được cộng đồng người Việt hải ngoại sử dụng rộng rãi. Qua đó, một đồ hình quẻ dịch đã trở thành biểu tượng mang nhiều dấu ấn cảm xúc trong lịch sử chính trị Việt Nam hiện đại.

Tòa Thánh Tây Ninh

Đạo Cao Đài khai đạo vào năm 1926 tại Nam Bộ và phát triển nhanh chóng thành một tôn giáo lớn với hàng giáo phẩm, lãnh thổ và có thời kỳ sở hữu cả lực lượng vũ trang riêng. Hệ tư tưởng của nền đạo mang tính dung hợp rõ rệt, kết hợp tinh hoa của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và Công giáo, đồng thời suy tôn những nhân vật như Victor Hugo hay Tôn Trung Sơn vào hàng thánh nhân.

Kinh Dịch cung cấp phần lớn hệ thống biểu tượng cấu trúc cho nền đạo. Tòa Thánh Tây Ninh được quy hoạch xoay quanh đồ hình Bát Quái, các mô típ quẻ dịch hiện diện xuyên suốt trong kiến trúc và pháp khí phụng tự, còn vũ trụ luận Cao Đài xem Kinh Dịch như nền tảng chung để dung hòa các dòng chảy tư tưởng kế thừa. Đây là trường hợp ứng dụng biểu tượng Bát Quái vào kiến trúc trực quan và quy mô nhất trên thế giới.

Hành trình chuyển ngữ sang tiếng Việt

Trong phần lớn chiều dài lịch sử tại Việt Nam, Kinh Dịch được đọc bằng chữ Hán, điều này giới hạn kinh văn trong tầng lớp trí thức khoa bảng. Những công trình diễn giải bằng chữ Nôm bắt đầu mở rộng diện tiếp cận của tác phẩm, nhưng bước ngoặt mang tính quyết định chỉ diễn ra vào thế kỷ hai mươi cùng sự phổ biến của chữ quốc ngữ.

Phan Bội Châu, nhà chí sĩ cách mạng tiền bối, đã viết tập khảo luận Kinh Dịch trong những năm tháng bị thực dân giam lỏng tại Huế, xem pho kinh điển này như một nguồn minh triết phục vụ công cuộc chấn hưng đất nước. Bản dịch và chú giải của học giả Nguyễn Hiến Lê đã trở thành ấn bản phổ thông chuẩn mực và cho đến nay vẫn là tác phẩm được đông đảo độc giả Việt Nam tìm đọc nhất. Những cuốn sách bàn về tư tưởng Lão Trang của Nguyễn Duy Cần tiếp tục đưa thế giới quan Kinh Dịch đến với tầng lớp bạn đọc rộng rãi hơn nữa.

Ứng dụng trong đời sống thường nhật

Song hành cùng dòng chảy học thuật và chính trị, các ứng dụng dân gian của Kinh Dịch vẫn duy trì mạch sống liên tục. Tục xin xăm bói quẻ tại đền chùa, tra cứu lịch vạn niên, xem ngày giờ tốt cho việc cưới xin, tang ma, động thổ làm nhà và khai trương kinh doanh, cùng thuật phong thủy xem thế đất và hướng nhà đều là những tập tục rất sống động tại Việt Nam hiện nay.

Bên cạnh đó, còn có một nét sinh hoạt văn hóa đặc trưng rất đáng chú ý của người Việt: bói Kiều, tức việc lật ngẫu nhiên một trang trong Truyện Kiều rồi đọc hai câu thơ xuất hiện trước mắt để suy ngẫm về sự việc. Tuy không sử dụng trực tiếp các quẻ dịch, phong tục này bắt nguồn từ cùng một tâm thức tham vấn kinh sách để thấu hiểu mệnh vận, cho thấy thói quen chiêm nghiệm này đã ăn sâu vào nếp nghĩ của người Việt đến nhường nào.

Câu hỏi thường gặp

Bài viết mới nhất

Khám phá trí tuệ cổ xưa của các lá bài tarot và mở khóa những bí ẩn của hành trình tâm linh của bạn. Blog của chúng tôi là cánh cửa dẫn bạn đến việc hiểu biết về biểu tượng phong phú, ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn của việc đọc tarot.